1. Đột quỵ là bệnh lý cấp tính nguy hiểm, nguy cơ dẫn đến tử vong cao nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Có 2 hình thái đột quỵ: nhồi máu não và xuất huyết não.

Nhồi máu não thường xảy ra đột ngột khi nguồn máu cung cấpcho não bị tắc nghẽn, gián đoạn hoặc suy giảm. Khi đó, não bị thiếu oxy, dinh dưỡng và các tế bào não bắt đầu chết trong vòng vài phút. Người bị đột quỵ có nguy cơ tử vong cao nếu không được phát hiện và cấp cứu kịp thời. Đây là một trong những bệnh lý thần kinh nguy hiểm và phổ biến nhất.

Xuất huyết (chảy máu) não, là do vỡ mạch máu não làm chảy máu vào nhu mô não, khoang dưới nhện hay não thất. Có khoảng 15% các trường hợp bệnh đột quỵ hiện nay là do xuất huyết não.

  1. Dấu hiệu của đột quỵ.

Nhiều nước trên thế giới hiện đưa ra chữ “FAST” để phổ cập các dấu hiệu của đột quỵ. “FAST” có nghĩa là nhanh (phản ứng tức thời), đồng thời là chữ viết tắt của Face (khuôn mặt), Arm (tay), Speech (lời nói) và Time (thời gian).

  • Khuôn mặt: Dấu hiệu dễ nhìn thấy là mặt bệnh nhân bị méo. Nếu nghi ngờ hãy yêu cầu bệnh nhân cười vì méo có thể rõ hơn.
  • Tay: Tay bị liệt, cũng có thể có diễn tiến từ từ như tê một bên tay, vẫn điều khiển được tay nhưng kém chính xác. Ngoài tay còn có một số dấu hiệu ở chân như nhấc chân không lên, đi rớt dép.
  • Lời nói: Rõ nhất là một số người đột quỵ bị “á khẩu” hay nói đớ.
  • Thời gian: Đưa bệnh nhân bệnh viện khám ngay khi ghi nhận những dấu hiệu vừa kể.

Ngoài ra có những triệu chứng ở người bị đột quỵ có thể kể đến như:

  • Lẫn lộn, sảng, hôn mê.
  • Thị lực giảm sút, hoa mắt.
  • Chóng mặt, người mất thăng bằng, không thể đứng vững.
  • Đau đầu.
  • Buồn nôn, nôn ói.
  1. Nguyên nhân.

Hai nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng đột quỵ là do thiếu máu cục bộ (tắc nghẽn động mạch) hoặc do xuất huyết não (mạch máu bị vỡ).

Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

  • Người bị các bệnh lý tim mạch như hở van tim, rung tâm nhĩ, nhịp tim không đều, suy tim.
  • Người bị tăng huyết áp.
  • Người bị tiểu đường.
  • Người bị rối loạn Lipid máu.
  • Tiền sử cá nhân hoặc gia đình đã từng bị đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua hoặc bệnh tim.
  • Lạm dụng các chất kích thích như uống nhiều rượu, sử dụng ma túy;
  • Người hút thuốc lá chủ động hoặc hít phải khói thuốc lá thụ động, gặp tình trạng khói thuốc lá dẫn đến mỡ tích tụ trong động mạch, tăng nguy cơ máu đông.
  • Người thừa cân, béo phì, ít vận động tập thể dục.
  • Chế độ ăn uống không hợp lý, lượng Cholesterol cao.
  • Về tuổi tác, người trong nhóm tuổi từ 55 tuổi trở lên có nguy cơ cao hơn.
  • Phụ nữ có nguy cơ bị đột quỵ thấp hơn so với nam giới.
  • Việc sử dụng thuốc tránh thai hay các liệu pháp điều chỉnh hormone, thay đổi nội tiết tố cũng làm tăng nguy cơ gây bệnh.
  1. Nhóm nguy cơ dễ bị đột quỵ.

Các nhóm đối tượng dễ có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn người bình thường bao gồm:

  • Ít vận động, ít tập thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe.
  • Thường xuyên hút thuốc lá hoặc tiếp xúc với khói thuốc lá.
  • Ít ăn rau xanh nhưng thường xuyên dùng đồ ăn có hàm lượng chất béo, dầu mỡ cao.
  • Nam giới và cả phụ nữ khi bước qua tuổi trung niên.
  • Gia đình từng có người bị đột quỵ.
  • Đang mắc hoặc đang điều trị các bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp.
  • Người bị tiểu đường.
  • Người thừa cân, béo phì.
  1. Biến chứng của đột quỵ.

Đột quỵ có thể dẫn đến tử vong hoặc nếu may mắn sống sót cũng để lại nhiều biến chứng nặng nề đối với người bệnh. Tùy theo thời gian người bị đột quỵ được phát hiện, đưa vào bệnh viện và điều trị mà mức độ tổn thương hệ thần kinh sẽ khác nhau.

Khi bị đột quỵ, càng chậm trễ trong việc điều trị cấp cứu thì hệ thần kinh càng bị tổn hại nặng nề, gây nên hậu quả nghiêm trọng, thời gian phục hồi lâu và thậm chí là không thể phục hồi. Thông thường, phải mất ít nhất 30 ngày để người bị tai biến có thể phục hồi chức năng. Thậm chí, trong một số trường hợp, biến chứng có thể gây thương tổn vĩnh viễn.

Một số biến chứng thường gặp sau khi bị đột quỵ bao gồm:

  • Bị liệt (1 tay, 1 tay hoặc hết tứ chi).
  • Khả năng vận động yếu, khó cử động tay chân.
  • Mất ngôn ngữ, nói ngọng, gặp khó khăn trong giao tiếp.
  • Gặp các vấn đề thị giác.
  • Các vấn đề tâm lý như trầm cảm, rối loạn cảm xúc.
  • Trường hợp nặng sẽ dẫn đến tử vong hoặc sống thực vật.

Do đó, chẩn đoán sớm, nắm rõ nguyên nhân đột quỵ và cách phòng ngừa đột quỵ sẽ giúp giảm tối đa các rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho người bệnh.

Là một bệnh viện hạng 1, trong những năm qua bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Lào Cai, không ngừng cải tiến và phát triển, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tiến tới chăm sóc người bệnh toàn diện. Hiện tại, bệnh viện được trang bị và đưa vào hoạt động hệ thống máy chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla hiện đại, có nhiều ứng dựng trong chẩn đoán các bệnh lý hệ thần kinh, xương khớp và đặc biệt rất có giá trị trong chẩn đoán sớm bệnh lý đột quỵ mà các phương phác khác còn hạn chế.

Với những chuỗi xung riêng biệt, chụp MRI là phương pháp được chọn nhiều nhất khi bệnh nhân có chẩn đoán bị đột quỵ, ngoài ra còn ứng dụng để phát hiện u não, dây u thần kinh sọ não, động kinh, dị dạng mạch máu….với hình ảnh chi tiết và kết quả nhanh vì vậy nó mang lại ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chẩn đoán và ngăn ngừa đột quỵ. Một trong những đặc điểm nổi bật của MRI đó là phát hiện đột quỵ cấp tính. Chụp MRI có thể phát hiện những thay đổi máu não cục bộ trong vòng vài phút sau khi người bệnh có những dấu hiệu ban đầu. Trong các mô của cơ thể, các phân tử nước di chuyển liên tục và ngẫu nhiên theo nhiều hướng khác nhau, và được gọi là chuyển động Brow hay hiệu ứng khuếch tán. Hiệu ứng khuếch tán xảy ra ở cấp độ phân tử, vì vậy các thay đổi về hiệu ứng này cho phép chúng ta đánh giá quá trình bệnh lý của mô sinh học ở giai đoạn rất sớm, đặc biệt là ở mô thần kinh Nhờ có sự chuyển động của proton giảm dần được phát hiện là dấu hiệu giảm của hệ số khuếch tán biểu hiện trên DWI và bản đồ ADC.

Một vài giờ sau khi khởi phát đột quỵ, phim chụp MRI đôi khi sẽ quan sát thấy mất tín hiệu chống động mạch (trên 30 – 40% bệnh nhân). Chụp MRI được đánh giá có khả năng phát hiện ổ thiếu máu não sớm hơn và nhạy hơn chụp CLVT cũng như trong phát hiện chảy máu kín đáo trong vùng nhồi máu. Cộng hưởng từ còn phát hiện sớm hơn và nhạy hơn chụp CLVT tình trạng phù não trên ảnh T2W. Nhồi máu cấp thường đồng tín hiệu trên ảnh T1W, tăng tín hiệu T2W ở khu vực dưới vỏ và mất sự khác biệt tuỷ – vỏ não. Chuỗi xung FLAIR (hồi phục đảo chiều) cho phép phát hiện sớm ổ thiếu máu và phân biệt tổn thương mới với di chứng của nhồi máu. Nếu khám theo chương trình tưới máu và phân bố máu (perfusion-diffusion) có thể phát hiện tổn thương trong những giờ đầu cho phép áp dụng điều trị tiêu sợi huyết.

Bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu cấp tại BVĐK tỉnh Lào Cai

Đối với xuất huyết não, tình trạng tín hiệu của ổ xuất huyết diễn biến theo thời gian do trong máu chứa oxyhemoglobin, quá trình giáng hóa thành deoxyhemoglobin, methemoglobin và tiếp đến là hemosiderin là những chất có có yếu tố quyết định nhất cho sự thay đổi tín hiệu theo thời gian của ổ xuất huyết hay máu tụ trên các xung T1W, T2W, Flair.  Đặc biệt với chuỗi xung T2* khi có xuất huyết thường sẽ giảm tín hiệu trên chuỗi xung này.

Bệnh nhân xuất huyết não

Nhờ có MRI có những hình ảnh sắc nét, bác sĩ có thể chẩn đoán và đưa ra những phương pháp trị liệu hợp nhất để giảm thiểu di chứng sau đột quỵ. Đột quỵ hiện nay rất phổ biến vì vậy ý nghĩa của chụp MRI trong ngăn ngừa đột quỵ mang lại có giá trị cao và hỗ trợ cho quá trình chữa bệnh của bệnh nhân.

Máy chụp MRI tại BVĐK tỉnh Lào Cai

Tóm lại, vai trò của chụp MRI trong chẩn đoán sớm, ngăn ngừa đột quỵ mang lại giá trị cao và đạt hiệu quả về mặt hình ảnh. Hiện nay, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Lào Cai với hệ thống MRI đạt chuẩn quốc tế, cơ sở vật chất tốt và đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao. Trong thời gian qua nhờ chẩn đoán sớm, chính sác, bênh viện đa khoa tỉnh Lào Cai đã cấp cứu, điều trị kịp thời thành công nhiều trường hợp đột quỵ, không để lại di chứng.

BSCKI. Trịnh Xuân Tình – Khoa Chẩn đoán hình ảnh

Chia sẻ ngay