Chụp cắt lớp vi tính (CT – scan, viết tắt của từ Computerized Tommography Scan) động mạch vành là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao, có thể hiển thị hình ảnh của tim và các mạch máu tại tim. Kỹ thuật chụp CT mạch vành thường được sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý tim mạch khác nhau.

1. Chụp CT mạch vành là gì?
Trái tim con người có 2 động mạch vành là động mạch vành trái và động mạch vành phải.
Theo Hội Tim mạch học Việt Nam, động mạch vành là một hệ thống với nhiều mạch máu có chức năng chính là nuôi tim. Mạch vành xuất phát từ gốc động mạch chủ, qua các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt tim.
Chụp CT mạch vành là kỹ thuật sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt để hiển thị hình ảnh hệ thống động mạch bên trong tim của người bệnh. Thông qua kỹ thuật chụp này, bác sĩ có thể quan sát và tìm nguyên nhân tắc nghẽn mạch vành giúp phát hiện và chẩn đoán bệnh lý mạch vành khi bệnh nhân chưa có dấu hiệu hay triệu chứng bệnh. Các bất thường về cấu trúc, hình thái của tim. Kiểm tra các tình trạng tái hẹp trong stent mạch vành và cầu nối mạch vành ở người bệnh đã can thiệp phẫu thuật tim. Chụp CT mạch vành có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chẩn đoán và điều trị các bệnh mạch vành hiệu quả.
Có 2 loại chụp mạch vành:
– Chụp mach vành không tiêm thuốc cản quang: cho phép quan sát tốt mức độ vôi hóa động mạch vành dù có thể chưa nặng đến mức gây hẹp lòng động mạch, giảm máu lưu thông. Như vậy, dựa trên mức độ vôi hóa trên ảnh chụp CT, bác sĩ có thể đánh giá nguy cơ mắc bệnh và đưa ra biện pháp chăm sóc phù hợp.
– Chụp mạch vành có tiêm thuốc cản quang: Kỹ thuật chụp này cho biết chắc chắn tình trạng hẹp động mạch vành và mức độ hẹp tắc, đạt khả năng loại trừ hẹp mạch vành đạt tới 97 – 100%.
Hơn nữa, thuốc cản quang cho phép đánh giá tốt mức độ hẹp lòng và thành động mạch trên ảnh chụp CT mạch vành. Những thông tin này có giá trị lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Đây là kĩ thuật có độ chính xác cao trong đánh giá bệnh mạch vành, cụ thể là hẹp mạch vành do xơ vữa động mạch hoặc đánh giá tái hẹp sau can thiệp điều trị trước đó. Tuy nhiên do sử dụng chất cản quang nên kĩ thuật này không phù hợp với người bệnh suy thận hoặc mắc bệnh nặng khác, người bị dị ứng với thuốc cản quang.

2. Đối tượng chỉ định và chống chỉ định:
* Chỉ định trong các trường hợp.
– Sàng lọc bệnh lý mạch vành ở những người bệnh có nguy cơ mắc bệnh cao (đái tháo đường, tăng huyết áp, người hút thuốc lá, người cao tuổi, người có tiền sử mắc bệnh mạch vành,…).
– Người bệnh đau ngực không ổn định, không rõ nguyên nhân.
– Người bệnh sau khi kiểm tra ECG và điện tâm đồ gắng sức nghi nghờ có bất thường mạch vành.
– Người bệnh bị suy tim chưa rõ nguyên nhân.
– Chẩn đoán các bất thường về cấu trúc, hình thái của tim.

– Người bệnh sau phẫu thuật điều trị mạch vành: đặt stent tim, phẫu thuật bắc cầu mạch vành, tạo hình mạch bằng bóng,…
* Chống chỉ định tương đối và tuyệt đối với các trường hợp:
– Phụ nữ có thai.
– Người bệnh có tiền sử dị ứng nặng với thuốc cản quang.
– Người bệnh bị hen suyễn, suy hô hấp, không thể nín thở.
– Người bệnh bị suy thận mạn tính nặng.

Chụp CT mạch vành được đánh giá là một kỹ thuật chẩn đoán có giá trị cao để phát hiện bệnh lý động mạch vành và giúp các bác sĩ chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị sớm cho bệnh nhân.
Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai với lực lượng các bác sĩ, kỹ thuật viên được đào tạo chuyên sâu đã và đang áp dụng kỹ thuật Chụp CT mạch vành với hệ thống máy CT 786 lát cắt hai đầu bóng thế hệ mới tối tân đảm bảo chất lượng hình ảnh và tỷ lệ phát hiện chẩn đoán các bệnh lý tim mạch đạt hiệu quả chính xác 90%.

Bs. Giàng Thu Hà – Khoa Chẩn đoán hình ảnh

 

Chia sẻ ngay